| |
Ký
Chuyện Một Con Tàu
Vũ Hữu San
Cầm trong tay tờ đơn gia
nhập hội Cựu Quân Nhân, đọc dần xuống cuối trang, người lính ngày xưa ấy nhìn
thấy hàng chữ ghi đơn vị cuối cùng. Anh cảm thấy thời gian như lắng đọng, tâm
hồn sống trở lại hồi hai mươi mấy năm về trước. Cầm bút, anh viết một hàng chữ
thật nắn nót: "Khu Trục Hạm Trần khánh Dư HQ-4". Lòng anh thêm nhớ thương dào
dạt: nhớ kỷ niệm, thương con tàu ...
Trước khi về phục vụ cho Hải Quân Việt Nam, chiếc Khu Trục Hạm đó đã
vang lừng tên tuổi. U.S.S. Forster - DER 334 - ra đời vào năm 1943 để đáp ứng
nhu cầu của Hải Quân Hoa Kỳ trong Thế Chiến thứ hai. Con tàu mang nhiệm vụ chính
của một chiến hạm hộ tống hải đội đặc trách phòng không và tiêu diệt tiềm thủy
đỉnh. Mang tên một Sĩ Quan Hải Quân Mỹ đã anh dũng hy sinh lúc khởi đầu cuộc
chiến, Khu Trục Hạm này được kiến trúc, trang bị và rồi hạ thủy vội vã tại xưởng
đóng tàu Consolidated Steel Corporation ở Orange, Taxas, vào ngày 13 tháng 11
năm 1943. Ngay lần ra khơi đầu tiên, khi bảo vệ đoàn thương thuyền vượt Đại Tây
Dương sang Anh Quốc, con kình ngư sơ sanh, thiếu tháng, mẹ chưa dậy đủ kỹ thuật
săn mồi này hạ ngay một hơi 2 khu trục cơ Đức Quốc và bắn hư hại nặng nhiều
chiếc khác. Đến ngày D-Day, 6-6-1944, vào lúc quân Đồng Minh đổ bộ lên bờ biển
Normandy, chiến hạm đã hoàn tất mỹ mãn nhiều công tác hành quân giúp cho việc
tiếp vận từ Hoa Kỳ sang Âu Châu được điều hòa.
Chiến tranh Đại Tây Dương chấm dứt, sau khi được tuyên dương công
trạng trước Hải Quân, U.S.S. Forster được chuyển đổi qua mặt trận Thái Bình
Dương. Thế Chiến thứ hai kết liễu, con tàu trở thành một đài thăm dò khí tượng
lưu động liên tiếp trong nhiều năm.
Vào đầu thập niên 1950, tình hình đột nhiên căng thẳng giữa Mỹ và
Nga, có đôi lần đã tưởng xẩy ra đại chiến, con tàu được gọi về, vào ngay Hải
Quân Công Xưởng để cải biến và tối tân hóa thành loại Khu Trục Hạm Tiền Thám
D.E.R. (Destroyer Escort Radar) với những dụng cụ điện tử đắt tiền nhất thời bấy
giờ; chiến hạm được trang bị đầy đủ cả ba hệ thống "mắt thần" về hải thám, không
thám và tiền thám. Để có đủ chỗ cho 12 phòng liên hệ về điện tử, điện toán và
kiểm pháo, hình dạng con tàu cần phải biến đổi. Phần thượng tầng kiến trúc được
nối thêm bằng hợp kim nhôm; hai cột radar vĩ đại mầu đen có ba chân chống được
dựng lên sừng sững ở sân giữa. Trung tâm chiến báo C.I.C. (Combat Information
Center) mở rộng ra hết cả chiều ngang con tàu. Hai Radar, SPS-8 (Surface Search)
và TACAN (Tactical Aircraft Navigation) được thiết trí với những giàn dây trời
khổng lồ vần vũ trên đài chỉ huy và một hệ thống antenna "beehive" góc cạnh chẻ
ba ở sân thượng phía sau.
Trong vòng 10 năm, tới
1965: chiến hạm tham dự vào hệ thống báo động tiền phương DEW line (Distant
Early Warning). Là một thành phần căn bản vùng Bắc Thái Bình Dương, Khu Trục Hạm
Forster có nhiệm vụ phát hiện đầu tiên về những cuộc tấn công bằng phi cơ và hỏa
tiễn của Cộng Sản vào lãnh thổ Hoa Kỳ. Nhật ký chiến hạm ghi nhận các công tác
được thi hành mỹ mãn và đặc biệt đã được tuyển chọn làm đơn vị gương mẫu của Hải
Quân Hoa Kỳ. Đài chỉ huy của Khu Trục Hạm lúc đó mang đầy huy chương và dấu hiệu
Ưu Hạng E (Exellent).

Chiến hạm được chuyển giao qua Hải Quân Việt Nam vào cuối năm
1971 tại Hải Xưởng Guam. Khu Trục Hạm mang chiến số HQ-4 và danh hiệu một trong
Ngũ Hổ Tướng đời Trần: Nhân Huệ Vương Trầnh Khánh Dư. Thủy thủ đoàn lúc đầu được
chọn lọc và trang bị đầy đủ cấp số, trong đó có cả một Y sĩ Hải Quân. Khu Trục
Hạm này là một niềm hãnh diện của cả Hải Quân Việt Nam, thời ấy chiếc chiến hạm
chủ lực đầu tiên và độc nhất có vận tốc hơn 20 gút. Từ đó trên biển Đông, khi
nước và gió thuận chiều, dưới bảng quốc kỳ Việt Nam phất phới tung bay, con tàu
tuần tiễu di hành có khi tới 24 hải lý một giờ.
Người đi biển thường tin rằng những con tàu có linh hồn. Mỗi chuyến
ra khơi, thủy thủ đoàn hay nhận được nhiều điềm lành ứng báo trước cho những
chiến công sắp tới, đôi lần ngay khi toàn thể thủy thủ đoàn trang trọng xếp hàng
ngay ngắn chào tiễn biệt quân cảng ra khơi. Có người còn kể chuyện là đã được
biết trước, quả quyết với đồng đội về tốt đẹp của chuyến đi. Người lính thủy nào
trên Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư cũng đều hay những sự linh thiêng hiển hiện đó.
Chỉ ít tháng sau khi nhận lãnh, trong lúc đang tuần dương tại vùng
biển cực Bắc, Khu Trục Hạm được lệnh vượt hàng ngàn cây số đường biển hỏa tốc
xuôi Nam, săn đuổi và tiêu diệt tàu địch trong vùng vịnh Thái Lan. Đại dương nổi
sóng, chiến hạm địch tuy có ngụy trang nhưng cũng vẫn bị phát hiện và bị bắn
chìm xuống lòng biển sâu, mang theo nhiều ngàn vũ khí các loại. Thủy thủ đoàn
địch bị chết, bị bắt sống nhiều tên, trong đó có cả Sĩ Quân Hải Quân cao cấp
Cộng Sản. Chiến hạm được tuyên dương công trạng trước Quân Đội.
Kỹ thuật tốt, vận tốc nhanh, khả năng thám sát và tác chiến cao,
chiến hạm không hề vắng mặt mỗi khi nhu cầu quốc phòng kêu gọi tới. Đánh giặc đã
hay mà bắt cướp, diệt buôn lậu cũng tài. Qua 4 năm vùng vẫy trên biển Đông, Khu
Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 còn nổi danh vì hai lần bắt tàu ngoại quốc buôn lậu
chuyên chở bạch phiến và thuốc phiện, tịch thu hàng chục tấn ma túy. Thành tích
này có tính cách quốc tế và là một kỷ lục khó bị phá vỡ.
Trong những năm cuối cùng của cuộc chiến, tình trạng tiếp vận yếu
kém tuy có làm sút giảm khả năng chiến hạm đôi chút nhưng tinh thần người lính
biển lúc nào cũng vẫn cao. Khi các đơn vị pháo binh bắt đầu bị hạn chế đạn dược
thì quân đội bạn hành quân vùng duyên hải cần sự tăng cường về yểm trợ hải pháo.
Thủy thủ đoàn HQ-4 nhiều khi thức trắng đêm, tác xạ hàng ngàn trái đạn lên đầu
địch quân. Hai cỗ đại pháo do đó bị soi mòn nhiều, thường phải thay nòng súng
luôn luôn.
Rồi đầu năm 1974, nghe nơi vùng Đông Hải chứa nhiều dầu, khí Trung
Cộng bèn âm mưu xâm chiến quần đảo Hoàng Sa. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư lại ra
khơi mang theo chuyến hải hành mối căm hờn của toàn dân Việt trong việc bảo vệ
hải biên. Biển Đông nổi sóng cuồng loạn vì hải chiến. Phía địch, hai Hộ Tống Hạm
bị chìm tại chỗ, hai chiếc khác hư hại nặng. Tuy vậy, lực lượng trú phòng của ta
trên bờ không đủ tiếp viện, lại thiếu không trợ nên các hải đảo bị quân Trung
Cộng tràn ngập.
Trong khi thành bại của chiến dịch là do chiến lược, chiến thuật đem
áp dụng bởi những vị Tư Lệnh cao cấp thì vinh dự của một đơn vị tham dự là do
thành quả tốt đẹp đã đạt được ngoài chiến trường so với khả năng tác chiến. Dù
sao người lính thủy của Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 cũng vẫn thường kể rằng
gần 200 năm sau khi vua Quang Trung đại phá quân Thanh, lần đầu tiên họ đã đại
diện cho Việt Nam đánh nhau chống kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Còn nói tới hải
chiến, đây là lần thứ nhất Nam quân tác chiến ngoài đại dương.
Sau 3 năm mang nặng tinh thần phục vụ Tổ Quốc, HQ-4 được tuyên dương
công trạng hai lần trước Quân Đội; thủy thủ đoàn hãnh diện mang dây biểu chương
mầu Anh Dũng Bội Tinh. Hội đồng chính phủ cũng ghi công chiến hạm bằng một huy
chương Tài Chánh Bội Tinh. Thật chưa bao giờ trong Quân Chủng có một đơn vị nào
được vinh dự hơn!
Bình thường, chiến hạm được nghỉ bến sau hai năm hải hành để về sửa
chữa đại kỳ, nhưng vì nhu cầu chiến trường đòi hỏi, con tàu vẫn tiếp tục công
tác cho tới đầu năm 1975. Mùa Xuân năm ấy khi quân địch tràn vào, HQ-4 đang nằm
trong Hải Quân Công Xưởng, tất cả máy móc, vũ khí bị tháo gỡ toàn diện để tu
trang. Con tàu tuy được vội vã ráp nối nhưng không còn kịp để ra khơi. Số mệnh
đã an bài, những ngày oai hùng của Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư nay đành chấm dứt!
Người viết theo đoàn người ly hương, trở thành kẻ tị nạn lang thang
nơi xứ lạ quê người. Bẵng đi 2, 3 năm, tuy có nhớ về đơn vị cũ, anh chỉ mong sao
cho con tàu không trở thành một phương tiện chiến tranh phục vụ kẻ thù. Niềm ao
ước thành sự thực và được chứng minh một cách tình cờ vào một ngày đẹp trời nơi
xứ Gia Nã Đại. Gia đình đưa anh coi một tờ báo trong đó Cộng Sản Việt Nam cho in
hình chiến hạm cũ của anh làm phương tiện tuyên truyền. Xem kỹ tấm ảnh, lòng anh
xiết bao thanh thản. Với con mắt của một người thủy thủ già, bỏ qua những lớp
sơn phết giả tạo mà kẻ thù đã giả trang cho chiến hạm, anh biết rằng con tàu
thân yêu của anh vẫn còn tiếp tục nằm bến. Khu Trục Hạm ngày đó, nay thiếu hẳn
hệ thống Radar hải pháo, lại mất nhiều giây trời truyền tin điện tử; đến cả
những gạt nước trên đài chỉ huy và máy đo gió cũng không còn hoạt động. Với tình
trạng ấy, chiến hạm nhất định chưa bao giờ ra khơi.
Việt Cộng xâm lăng xứ Cambodge, nỗ lực chận bắt người vượt biển tìm
tự do nhưng chiếc tàu ấy vẫn chưa một lần nhúng tay vào tội ác! Các ấn bản của
Jane's Fighting Ships liên tiếp trong nhiều năm cũng xác nhận là những chiến hạm,
chiến đỉnh HQVNCH ngày ấy bị bỏ lại đến nay vẫn còn chạy, chỉ riêng có Khu Trục
Hạm Trần Khánh Dư là bất khiển dụng vì Cộng Sản không thể sửa chữa được. Phải có
một sự linh thiêng nào giúp cho con tàu, sau hơn 30 năm tung hoành hiên ngang
khắp mặt đại dương mà ngày nay nằm trong tay địch cũng như Từ Thứ đã về Tào
nhưng suốt đời không phù ngụy nghĩa.
Nói về chiến hạm nào, người ta hay kể tới các Hạm Trưởng của con tàu
ấy. Nhiều vị Đô Đốc, Đại tá Hải Quân Hoa Kỳ xuất thân từ U.S.S. Forster. Các vị
chỉ huy Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư tuy không được may mắn nhiều như vậy nhưng
vẫn có nhiều điều đáng nói.
Từ xưa, số phận Hạm Trưởng và chiến hạm thường liên hệ với nhau. Vị
Hạm Trưởng đầu tiên nhận lãnh tàu tượng trưng cho cái oai phong lẫm liệt của Phó
Đô Tướng Quân Trần Khánh Dư lúc kháng Nguyên. Sau chiến công thủy táng tàu địch,
Ông là vị Hạm Trưởng đầu tiên của Hải Quân VNCH mang cấp bậc Đại Tá thực thụ và
cũng là vị Sĩ Quan trẻ nhất trong cấp bậc này. Thật là điều hãn hữu khi Chỉ Huy
Trưởng của Hải Đội còn thua ông một "vạch vàng" và Tư Lệnh Hạm Đội cũng chỉ đồng
cấp với Ông mà thôi. Cũng kể từ đó, Hạm Trưởng các chiến hạm chủ lực thuộc Hạm
Đội của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa mới bắt đầu được mang cấp bậc Đại Tá
(captain) cho tương xứng với chức vụ, bảng cấp số và cũng là đúng với tuyền
thống Hải Quản quốc tế.
Trời đất cũng ganh ghét kẻ anh tài. Ông phải rời tàu vì nhuốm bạo
bệnh sau đó ít tháng thì từ trần. Khi người viết thuyên chuyển xuống phục vụ
chiến hạm một năm sau, cái hùng khí của Ông còn lẩn khuất đâu đây. Đôi khi thủy
thủ đoàn như mường tượng thấy Ông đang đứng trên đài chỉ huy dẫn lộ chiến hạm
vượt ngàn hải lý rượt đuổi quân thù. Vết chân Ông còn như in dấu cạnh la ban tả
hạm nơi Ông kiên quyết ra lệnh tác xạ tiêu diệt tàu địch.
Vị Hạm Trưởng kế nhiệm mang hình ảnh sảng khoái nhưng uy nhiệm của
tướng lãnh đời nhà Trần lúc nhập tiệc khao quân chiến thắng khôi phục Thăng
Long. Ông có vẻ mặt vừa khoan hòa vừa cương quyết như khi người xưa đang tập
trung nghị lực để chờ giờ quyết định tử chiến với quân thù tại ngoài khơi Vân
Đồn. Trong giai đoạn tương đối ít sôi động này, Ông được ghi nhận nhiều công lao
yểm trợ đắc lực cho quân bạn suốt "mùa hè đỏ lửa" và tham dự một lần chận bắt
ghe tàu buôn lậu quốc tế.
Gần hai năm cuối cùng, Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đặt dưới
quyền chỉ huy của một Sĩ quan trẻ tuổi. Để khuyến khích Sĩ quan và Đoàn viên noi
gương vị anh hùng mà chiến hạm mang danh hiệu, Ông. thường đọc tiểu sử Nhân Huệ
Vương Trần Khánh Dư và đặc biệt khuyến cáo nhân viên thuộc lòng bài thơ "Bán
Than".
Chiến trận sôi động khắp toàn quốc, con tàu có nhiều dịp vùng vẫy
khắp biển Đông cũng như trong vịnh Thái Lan. Cộng Sản mở nhiều đợt tấn công,
chiến hạm như một pháo đài lưu động vừa tuần dương vừa yểm trở quân bạn trên bờ.
Hết diệt loạn trong nước lại đến chống giặc ngoại xâm. Nhớ khi xưa Trần Khánh Dư
dẹp Mông Cổ, HQ-4 được phái ra Hoàng Sa giữ nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch trong
giai đoạn đầu, sau đó dẫn đạo một hải đội khi hải chiến.

Như "Bán Than" là bài thơ nôm đầu tiên, Hạm
Trưởng đời thứ ba của Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư cũng hãnh diện là người Sĩ Quan
đầu tiên của Hạm đội được vinh dự mang đầy đủ một hàng huy chương đặc biệt trên
ngực áo bên phải vì các đơn vị Ông phục vụ và chỉ huy được tuyên dương công
trạng tập thể nhiều lần.
Một lời thốt ra có thể vận vào với số phận. Không ai biết ngày xưa
Trần Khánh Dư vì lỗi lầm gì mà phải đi bán than. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư dù "nghĩ
mình lem luốc" nhưng một lòng vẫn nguyện "ở với khói hương cho vẹn kiếp" và "xem
sắt đá có bền gan?" ... Người bán than Trần Khánh Dư, sau cơn thử thách chờ đợi
tại Chí Linh, lại xuất hiện để đi làm lịch sử. Linh hồn Khu Trục Hạm HQ-4 chắc
vẫn mong mỏi một ngày nào gió thuận nước xuôi, lại uy dũng ra khơi vẫy vùng cho
thỏa sức mà phục vụ lý tưởng quốc gia.
Chiến hạm thân yêu ơi, đừng buồn nhé! Hãy can đảm lên, nhẫn nhục chờ
thời để rồi lại hiên ngang tiến tới. Nhớ xưa Trần Khánh Dư đã từng một thời vinh
hiển làm hầu tước mà số phận đổi dời, phải nhận nghiệp bán than. Sau đó từ một
thân bại tướng, ông vẫn kiên tâm quyết chiến, lật ngược cả thời cuộc trong trận
đại thắng Vân Đồn ...
Ngày mai kia, quân thù rồi cũng sẽ bị diệt vong, ngươi lại ra khơi
tạo lại danh xưa. Người viết, một thời sát cánh cùng người, tuy mỗi tuổi mỗi già,
vẫn bền tâm chờ đợi ...
Vũ Hữu San (1), 1979
Viết kỷ-niệm hội "Huynh-Đệ" của Cựu
Quân Nhân VNCH/Utah
(1)
Tên tác giả được liệt kê trong
Danh Sách các Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa:
http://www.generalhieu.com/colonels-u.htm

Thấy mơ hồ một chiến hạm ra khơi
Nguyên
Nhi
Tạp bút -
February
19, 2008
Ðối với
anh ta, con tàu không chỉ đơn thuần là một khí cụ chiến tranh. Nó là một sinh
thể có đời sống và mảnh hồn riêng. Cái hồn rất riêng này không dễ nào nắm bắt.
Con tàu, tuổi trẻ anh ta ở đó. Con tàu, khoảng đời tuoi đẹp nhất của anh ta ở đó.
Con tàu, ở đó, chứ không phải là bất cứ một nơi nào khác.
Trong đem mịt mùng bão biển, anh ta đốt lên một đóm thuốc nhỏ nhoi. Chung quanh
anh ta là những gương mặt lầm lì chai sóng. Mặt hải đồ chi chít những tọa độ
trên một hải trình ngoằn ngoèo truy tàu địch. Mùa biển động là mùa tàu giặc lén
lút xâm nhập. Chúng gọi đó là chiến tranh du kích trên biển. Sóng lớp lớp phủ
chụp mặt sàn chính con tàu, chồm lên cả đài chỉ huy. Con tàu thủy chung vẫn lừ
lừ chẻ mặt biển đen. Lâu, phải thật lâu mới có một ánh đen xa nhấp nháy. Mua gào.
Gió rít. Nguời ta không thể nào quên đuợc những con gió xé tai của một ngày bão
biển. Con tàu, con nguời gắn bó thủy chung, xẻ chia định mệnh. Ðịnh mệnh ấy xua
đuổi cả hai vào cuộc chiến tranh để sinh tồn truớc một thiên nhiên khắc nghiệt
và một chủ nghia hắc ám.
Sau khi bàn giao phiên hải hành sớm, anh ta rời đai chỉ huy. Những thủy thủ cùng
phiên với anh ta cung lục tục về phòng ngủ. Anh ta không vội. Duờng nhu trên đời
không có điều gì làm anh ta phải hấp tấp. Anh ta còn quá trẻ và duờng nhu mọi
việc đều chiều chuộng, chờ đợi anh ta. Dường như chưa có cơ hội tốt nào bỏ đi vì
sự chậm chạp của anh ta. Nói đúng ra cũng có một ngoại lệ, có một lần anh ta đã
rất vội vàng. Ðó là lần anh ta quyết định vào lính. Anh ta đã nghi rằng chuyện
học hành, đỗ đạt, tình yêu, hôn nhân, mọi sự… đều có thể thu thả thu xếp. Nhung
cuộc chiến cần có anh ta. Tức thì. Như bị một hấp lực không thể cuỡng lại đuợc,
anh ta rời bỏ giảng đuờng. Nhiều nguời cố gắng lý giải, gọi đó là "mộng hải hồ",
"nghiệp kiếm cung", "tiếng gọi tổ quốc"… hay gì gì đó nữa. Riêng anh ta, anh ta
vốn dị ứng với tất cả những danh từ to lớn.
Nhưng đó là chuyện đã cũ. Còn bây giờ thì, sau phiên hải hành khuya, chẳng có gì
phải vội vàng, anh ta lững thững đi xuống phòng ăn, nhờ nguời tiếp vụ pha một
tách cà phê. Có thể anh ta sẽ thả nguời trên sofa, lật lật một vài trang sách.
Cung có thể anh ta chỉ ngồi thừ ra đó để suy tuởng mênh mông. Cung có thể anh ta
muốn chứng kiến một ngày mới vừa lên qua những ô cửa kính. Luồng nắng huy hoàng
xoay động mỗi bận mui tàu quay. Trên vách, chung quanh anh ta là bản sao của
những bức tranh vẽ biển, vẽ thuyền, hải đăng, hải âu, những gành đá cô quạnh...
Cung nhu anh ta, mặt trời chẳng vội vàng...
Sau mấy giờ nghỉ ngoi lấy sức, anh ta bắt đầu một ngày làm việc mới. Hồi chua
vào lính, anh ta chỉ nghi đuợc rằng đời sống hải quân là những cuộc hải hành và
hải chiến. Không bao giờ anh ta tuởng tuợng ra sự khô khan cứng ngắc của những
buổi họp tham muu, sự buồn nản của việc giấy tờ, công văn. Nhung rồi cung quen.
Con tàu chào đời và lớn lên trong Ðệ nhị thế chiến. Ba muoi năm sau nó là một
trong những nguời chị trong hạm đội miền Nam. Những chiến công của nó hãy còn đó,
đẹp ngời trong hải sử.Theo hải trình của nó, anh ta đa ghé qua những bến cảng
địa đầu, những hải đảo cuối đất. Theo những cánh lục bình quắt queo và rục rã
ngoài cửa biển. Theo cánh trắng hải âu thảng thốt bổ nhào xuống mặt vịnh xanh
lo. Theo bầy sứa sặc sỡ trải rộng một vùng biển vắng. Theo bãi san hô cành nhánh
xum xoe. Theo đảo xanh dừa. Theo bờ trắng cát. Theo tàu giặc ranh ma. Theo đầu
con chớp bể mua nguồn. Theo bầy dolphin trên hải trình quen thuộc...
Chiều xuống chậm trên biển. Khó mà quên đuợc cảnh tuợng lộng lẫy của thời khắc
bàn giao giữa ánh sáng và bóng tối. Mặt trời nằm vắt ngang đuờng chân trời, rực
đỏ. Anh ta hay ngồi ở sân sau, thả khói, nhìn mặt trời chìm. Anh ta không nhớ
nhà. Nhớ chăng chỉ là chút hình ảnh mênh mông suong khói. Con tàu là ngôi nhà
của anh ta. Ðó là noi anh ta đã trải qua những ngày êm đềm và sóng gió. Cay đắng
và ngọt ngào. Con tàu đã là một phần của tâm hồn mẫn cảm của anh ta. Có thể
trong suốt một chặng dài muời, hai muoi năm, chuyện đời anh ta không có gì đáng
nhớ nhung cái khoảnh khắc sống với con tàu ấy đã trở thành một dấu ấn đậm nét
trên tâm hồn anh ta. Với con tàu, anh ta truởng thành và tâm hồn anh ta xếp
thành nếp, dáng.
 
Những
ngày cuối cùng của cuộc chiến, con tàu nằm đại kỳ ở hải xuởng. Con kình ngu một
thời luớt sóng ngăn thù ấy bây giờ đanh ngậm ngùi mắc cạn. Nó không còn co hội
vuợt trùng luu vong. Nó, cũng như anh ta, nằm lại, nghẽn thở trong chiếc thòng
lọng đỏ. Sau này, anh ta viết:
Ðể khắc khoải đem sâu tù cải tạo
Nghe thinh không thảng thốt một hồi còi...
oOo
Một tối, trong trại tù cải tạo ấy, anh ta lật tờ "Quân đội nhân dân" và bàng
hoàng khi thấy lại hình ảnh con tàu trên trang nhất. Bức hình này quá quen thuộc
đối với anh ta. Nó đa xuất hiện hằng năm trên quyển niên lịch hải quân. Thì ra,
vừa đuợc tu bổ xong chiếc khu trục hạm ấy, vẫn còn giữ nguyên tên và số hiệu,
trở thành một phuong tiện trấn áp trong tay kẻ thù.
Vậy là thêm một sự mất mát. Anh ta âm thầm chịu đựng sự mất mát ấy bên cạnh
những đổ vỡ khác. Nhung nói chung những tang thuong cuộc đời chỉ có thể làm anh
ta trở nên xót xa cay đắng chứ anh ta không hề nguyền rủa hay đay nghiến số phận.
Bây giờ anh ta đã năm muoi. Con tàu cung vừa độ lục tuần. Bây giờ anh ta biết
mình già. Bây giờ anh ta không biết con tàu đa tàn tạ đến đâu trong tay kẻ địch.
Hay nó đa rỉ sét nằm neo trên một nghia trang quạnh quẽ nào rồi?
Nhưng bây giờ nghĩ cũng kỳ, thỉnh thoảng anh ta lại thấy chính mình vừa độ thanh
niên. Mắt sáng. Tóc bồng. Bây giờ, cũng kỳ, thỉnh thoảng anh ta lại thấy con tàu
đương thời thiếu nữ. Ngực nở. Môi tuoi. Anh ta thấy mình đang trụ đầu pháo tháp,
vỗ mạn tàu mà ca. Anh ta lại nghe lại một hồi còi u u trầm mặc. Tiếng còi tàu mở
đầu một ra khơi đồng thiếp. Anh ta viết tiếp:
Ðể khật khuỡng chiều say trên xứ lạ
Thấy mơ hồ một chiến hạm ra khơi...
Nguyên Nhi (2)
(2) Xin vĩnh biệt Nhà
Văn Nhà Thơ
Nguyên Nhi Nguyễn Văn Nhiều thuộc HQ-4,
đã vĩnh viễn bỏ
chúng tôi ra đi ngày 18 tháng 10 năm 2013 tại Dallas, Texas.
Hưởng thọ 63 tuổi.
|